1 số Khái niệm và các vấn đề việc làm ở Việt Nam hiện nay

0
15

Trước khi xem xét vấn đề việc làm ở Việt Nam hiện nay, chúng ta cần hiểu một số khái niệm như khái niệm việc làm, thất nghiệp, giải quyết việc làm.

1/ Một số khái niệm liên quan

a/ Khái niệm việc làm

Việc làm là một khái niệm thuộc phạm trù hoạt động của con người, mọi hoạt động của con người được biểu hiện đa dạng và sinh động qua các dạng việc làm trong hình thái kinh tế xã hội. Nói đến việc làm là nói đến nơi làm việc, một đối tượng lao động, một công cụ lao động, một quá trình đào tạo cụ thể.

Khi đề cập đến vấn đề việc làm thì sức lao động có vai trò quan trọng, nó là tất yếu của mọi quá trình sản xuất (cả vật chất lẫn tinh thần). Vai trò của lao động không mất đi hoặc suy giảm trong bất kỳ điều kiện công nghệ – kỹ thuật sản xuất nào mà vấn đề là diễn ra sự thay đổi vai trò của lao động thể lực và lao động trí lực.

Một số khái niệm liên quan việc làmMột số khái niệm liên quan việc làm

b/ Giải quyết việc làm

Thực chất của tạo việc làm là trạng thái phù hợp giữa hai yếu tố sức lao động và tư liệu sản xuất, cả về số lượng và chất lượng, đó là hai điều kiện cần. Để trở thành hiện thực, nên có môi trường thuận lợi cho việc kết hợp hai yếu tố đó.

Do vậy tạo việc làm là: Tạo ra số lượng và chất lượng tư liệu sản xuất (Vốn đầu tư tiến bộ khoa học kỹ thuật áp dụng vào sản xuất, khả năng quản lý, sử dụng), tạo ra số lượng và chất lượng sức lao động (Quy mô dân số, lao động, giáo dục, đào tạo, phát triển nguồn lực con người). Hình thành môi trường thuận lợi có sự kết hợp các yếu tố sức lao động và tư liệu sản xuất, là sự kết hợp giữa hệ thống chính sách phát triển kinh tế – xã hội, chính sách khuyến khích thu hút  người lao động, chính sách bảo hộ sản xuất, chính sách thất nghiệp, chính sách khuyến khích đầu tư…

Hiện nay ở nước ta công nghiệp hoá, hiện đại hoá vừa là mục tiêu, vừa là điều kiện để tăng trưởng và phát triển kinh tế vững chắc, đồng thời giải quyết những vấn đề bức xúc của xã hội, trong đó có vấn đề giải quyết việc làm và cải thiện đời sống nhân dân lao động. Đại hội

Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ IX đã xác định “Sắp tới phải bằng nhiều biện pháp: các thành phần kinh tế mở mang các ngành nghề; đẩy mạnh phong trào lập nghiệp của thanh niên; đẩy mạnh xuất khẩu lao động… nhằm tạo ra nhiều việc làm mới, giảm tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị và tăng quỹ thời gian lao động được sử dụng ở nông nghiệp”.

2/ Vấn đề việc làm ở Việt Nam hiện nay

Vấn đề việc làm ở Việt Nam hiện nay cho lao động xã hội là một trong những vấn đề có tính toàn cầu, là mối quan tâm của nhiều quốc gia. Mở rộng việc  tạo thêm chỗ làm việc cho lao động xã hội làm là một trong những nội dung cơ bản nhất của chiến lược phát triển kinh tế – xã hội được toàn thế giới quan tâm và cam kết thực hiện.

Trong cơ chế thị trường người lao động có quyền tự do lao động, tự tìm và tạo việc làm cho người khác trong khuôn khổ pháp luật, không bị phân biệt đối xử, cơ chế bao cấp, việc ỷ lại Nhà nước để có việc làm, có biên chế Nhà nước, đang dần dần thay đổi cho thị trường lao động phát triển.

Vấn đề việc làm ở Việt Nam hiện nayVấn đề việc làm ở Việt Nam hiện nay

Tình hình thiếu việc ở nước ta cũng rất gay gắt, gõ cửa từng gia đình và trở thành vấn đề xã hội nóng bỏng, đòi hỏi Đảng và Nhà nước có những chủ trương giải quyết việc làm cho người lao động trong tình hình mới và xây dựng chiến lược an toàn việc làm. Khắc phục triệt để những nguyên nhân tiêu cực do nền kinh tế thị trường tạo ra cho xã hội Việt Nam.

Theo thống kê, đến hết quý I/2017, lao động trong các doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) là 1,25 triệu người chiếm 2,3%, lao động trong các DN có vốn đầu tư nước ngoài 2,5 triệu người, chiếm 4,6%, lao động trong các DN, cơ sở sản xuất khu vực tư nhân là 14,6 triệu người chiếm 25,8% và lao động hưởng lương khu vực tư nhân, nhất là hộ cá thể, tiểu thủ công nghiệp, hợp tác xã, dịch vụ có gần 59% không có hợp đồng lao động.
Theo đánh giá của PGS.TS Vũ Quang Thọ, Viện Công nhân và Công đoàn, thị trường lao động vẫn còn bấp bênh, biến động nhiều. Hiện có 98% số lượng DN nhỏ và vừa. Số lượng thành lập lớn nhưng phá sản cũng nhiều. Số liệu của Bảo hiểm xã hội Việt Nam, số người hưởng bảo hiểm thất nghiệp từ năm 2014-2016 trung bình 540 nghìn người/năm, số người chấm dứt quan hệ lao động trong các lĩnh vực sản xuất để hưởng bảo hiểm xã hội một lần cũng tăng đáng kể.
Thực tế, mức lương tối thiểu vùng áp dụng ở khu vực DN những năm gần đây tăng liên tục với tỷ lệ tương đối cao, nhưng vẫn không đáp ứng được mức sống tối thiểu của người lao động (NLĐ). Khảo sát của Viện Công nhân và Công đoàn, tại vùng I (tính thu nhập bình quân) thu thập 5,1 triệu, chi 5,3 triệu đồng/tháng (-3,2%); vùng II thu nhập 4,5 triệu, chi 4,7 triệu đồng/tháng (-5,3%), vùng III thu nhập 4,49 triệu đồng, chi 4,22 triệu đồng (+6,6%) và vùng IV thu nhập 4,17 triệu đồng, chi 3,87 triệu đồng/tháng (+7,8). Tính chung các vùng, NLĐ thu nhập 4,7 triệu đồng, chi 4,5 triệu đồng/tháng (+4,4%).
Phó Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam Nguyễn Văn Thuật đánh giá, hy vọng với những kết quả nghiên cứu và những đóng góp của các chuyên gia, nhà quản lý, nhất là vấn đề việc làm, tiền lương và đời sống của NLĐ sẽ là luận cứ quan trọng giúp cho các nhà hoạch định chính sách tham khảo trong công tác xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường của nước ta nói chung, cụ thể hóa chính sách phát triển doanh nghiệp và nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nước nhà nói riêng.
PGS.TS Vũ Quang Thọ đánh giá, với tình hình thu nhập và chi tiêu (dù là rất tằn tiện, dè sẻn) của NLĐ, thì đời sống của NLĐ vùng I, II thực sự khó khăn, thiếu thốn. Do đó, tình trạng tranh chấp lao động dẫn đến đình công, mà nguyên nhân chủ yếu liên quan đến tiền lương, thu nhập và điều chỉnh lương tối thiểu. Chỉ tính 5 tháng đầu năm 2017, cả nước có 133 cuộc đình công tập trung ở may mặc, da giày.

Xem thêm: vấn đề việc làm ở việt nam hiện naythuyết minh áo dàiđịnh nghĩa quản lý

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.